[Chia sẻ] Một thoáng quê hương Kinh Bắc !

Thảo luận trong 'Câu lạc bộ Hà Bắc' bắt đầu bởi songoku77, 9/6/12.

  1. songoku77

    songoku77 Thánh vũ

    Tham gia ngày:
    27/10/11
    Bài viết:
    7,590
    :liebe-4763:​
    Quê hương là gì hở mẹ,
    Mà cô giáo dạy phải yêu?
    Quê hương là gì hở mẹ,
    Ai đi xa cũng nhớ nhiều?​

    :smod::smod::smod:

    "Quê hương mỗi người chỉ một
    Như là chỉ một Mẹ thôi
    Quê hương nếu ai không nhớ
    Sẽ không lớn nổi thành người..."


    :5: Quê hương – hai tiếng yêu thương hàm chứa đầy đủ và trọn vẹn nhất hương vị của tình yêu, nỗi lòng, tâm sự, niềm tự hào, và khí phách dân tộc trong mỗi con người Việt Nam chúng ta.
    Dù đi đâu nơi góc bể chân trời, dẫu là ai thì hình ảnh quê hương với tuổi thơ đầy ắp kỷ niệm, mái trường yêu dấu, cây đa, sân đình ngày hội làng….vẫn mãi cùng chúng ta trên mọi nẻo đường đời. Hình bóng quê hương đậm đà, da diết trong mỗi vần thơ, câu ca, điệu hò, và ngay cả trong sâu thẳm trái tim mỗi con người.

    :herza::herza::herza::herza::herza:​

    "Đi suốt cả chiều thu vẫn chưa về tới ngõ
    Dùng dằng câu quan họ nở tím bờ sông Thương
    Nước vẫn chảy đôi dòng, chiều uốn cong lưỡi hái
    Những gì sông muốn nói cánh buồm giờ hát lên
    Ơi con sông màu nâu, hạt phù sa cổ tích
    Mấy cô mấy cô trên đồng, lúa xanh lúa xanh nõn nà
    Tóc mây tóc mây la đà, xõa vào chiều thu thương nhớ
    Mắt em dài hoa cau….."

    :smod::smod::smod:

    "Bên kia sông Đuống
    Quê hương ta lúa nếp thơm đồng
    Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
    Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp…"​


    :5: Quê hương Kinh Bắc, miền quê giàu đẹp, trù phú với bề dày ngàn năm văn hiến sẽ mãi là chiếc nôi cuộc đời của mỗi người con Kinh Bắc.
    Với mỗi người con Kinh Bắc, những kỷ niệm về nơi cất tiếng khóc chào đời, về nơi tất cả tuổi thơ đã lớn lên từ đó đã thấm đẫm, khắc sâu trong tâm trí, nó sẽ đi theo mỗi người con kinh Bắc đến bất cứ nơi đâu trên thế gian này .
    Những kỷ niệm, những hình ảnh về quê hương Kinh Bắc luôn làm cho nỗi nhớ quê hương, nỗi nhớ về một địa danh chỉ còn lại trong ký ức của mỗi người con Kinh Bắc càng thêm da diết...!

    :liebe-4763:​

    :star2: :star2: :star2: Hãy lắng nghe những dòng tâm sự, những cảm nhận, những chia sẻ, những kỷ niệm, những điều hay, những cái đẹp về quê hương của những người con Kinh Bắc, của tất những ai đã từng đến, từng đi qua, đã từng sống và đã từng yêu mến miền quê Kinh Bắc để hiểu rõ hơn suy nghĩ, tình cảm, và tình yêu của họ đối với quê hương Kinh Bắc thân yêu:

    :star2: :star2: :star2: :30::30::30::star2: :star2: :star2: ​


    (*) Đôi nét về địa lý và lịch sử, văn hóa xứ Kinh Bắc :

    (*) Kinh Bắc là tên một địa danh cũ ở phía Bắc Việt Nam. Năm Canh Tuất, 1490, vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ cả nước, gồm 13 (đạo) xứ thừa tuyên (sau gọi là xứ, từ triều Tây Sơn tới đầu triều Nguyễn đổi sang gọi là trấn). Đến đây mới xuất hiện tên gọi các trấn (xứ), từ Nghệ An trở ra Bắc gồm: (trấn) xứ Kinh Bắc, xứ Sơn Nam (trấn Sơn Nam Thượng, trấn Sơn Nam Hạ), Xứ Đông (trấn Hải Dương), Xứ Đoài (trấn Sơn Tây), trấn Hưng Hóa, trấn Cao Bằng, trấn An Quảng (Yên Quảng), xứ Thái Nguyên, xứ Lạng Sơn, xứ Tuyên Quang, phủ Hoài Đức (Thăng Long), đạo Thanh Bình, nội trấn Thanh Hoa, trấn Nghệ An. Tuy nhiên, tới thời vua Gia Long nhà Nguyễn, Kinh Bắc vẫn được gọi là xứ (xứ Kinh Bắc) thuộc Bắc thành tổng trấn. Theo đó:
    Trấn Kinh Bắc xưa gồm 4 phủ (20 huyện), hiện nay bao gồm toàn bộ ranh giới 2 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và một phần nhỏ các tỉnh thành lân cận là Hà Nội (toàn bộ khu vực phía bắc sông Hồng là: Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn); Hưng Yên (Văn Giang, Văn Lâm) và Lạng Sơn (Hữu Lũng).
    Cụ thể, đó là các phủ và huyện sau:
    • Phủ Bắc Hà gồm 4 huyện: Tân Phúc (Sóc Sơn), Kim Hoa (nay gồm Mê Linh, Đông Anh, Sóc Sơn của Hà Nội, thị xã Phúc Yên của Vĩnh Phúc), Hiệp Hoà, Việt Yên (Bắc Giang.
    • Phủ Lạng Giang gồm 6 huyện: Phượng Nhãn (Lạng Giang), Yên Dũng, Bảo Lộc, Yên Thế, Lục Ngạn (đều thuộc Bắc Giang) và Hữu Lũng (thuộc tỉnh Lạng Sơn).
    • Phủ Thuận An gồm 5 huyện:Gia Lâm (Hà Nội), Siêu Loại (Thuận Thành - Bắc Ninh), Văn Giang, Văn Lâm (Hưng Yên), Gia Bình, Lương Tài (Bắc Ninh).
    • Phủ Từ Sơn gồm 5 huyện của Bắc Ninh: Đông Ngàn, Yên Phong, Tiên Du, Quế Dương, Võ Giàng. (Quế Dương và Võ Giàng nay gộp thành Quế Võ).
    Vì trấn lỵ ở Đáp Cầu, huyện Võ Giàng (phía Bắc kinh thành), nên Kinh Bắc cũng được gọi là trấn Bắc hay trấn Khảm.


    (*) Kinh Bắc là nơi có 3 kinh đô cổ của Việt Nam gồm: Cổ Loa, Mê Linh và Long Biên. Kinh Bắc cùng với xứ Đoài là hai vùng văn hóa cổ nhất so với xứ Sơn Nam và xứ Đông, những vùng văn hóa lâu đời tại Việt Nam. Tại đây có nhiều di tích lịch sử có giá trị như Cổ Loa, đền Sóc, Chùa Dâu, chùa Phật Tích, đền thờ Hai Bà Trưng...
    Quê hương Kinh Bắc có dân ca quan họ và lễ hội Gióng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.


    (*) Kinh Bắc nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, có núi sông hùng vĩ, ruộng đồng bờ bãi phì nhiêu, là đất “địa linh nhân kiệt” sinh ra nhiều nhân tài cho quê hương, đất nước. Phát huy địa thế của quê hương, truyền thống của ông cha, các thế hệ người Kinh Bắc luôn chịu thương chịu khó, hiếu học, yêu nước, đánh giặc và đã góp phần lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Tất cả những truyền thống tốt đẹp quý báu đó, đã làm nên bản sắc văn hoá đặc sắc của xứ sở Kinh Bắc.

    (*) Dân tộc ta trải hàng ngàn năm lịch sử, cũng là hàng ngàn năm dân tộc ta có một nền văn hiến Kinh Bắc. Chính vì vậy, sử sách, các học giả, các nhà nghiên cứu đã đánh giá Kinh Bắc “cái nôi” hình thành và phát triển lịch sử-văn hoá của dân tộc Việt Nam.
    Bên kia sông Đuống, trên đất Thuận Thành – Bắc Ninh, uy nghiêm lăng mộ Kinh Dương Vương, đền thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ tại làng Á Lữ - Đại Đồng Thành- Thuận Thành. Di tích thờ "Nam bang thuỷ tổ" (ông tổ nước Nam). Thành cổ Luy Lâu ở xã Thanh Khương (Dâu) – Thuận Thành – Bắc Ninh với các di tích dinh thự, phố chợ, đền đài, chùa tháp nguy nga còn lại của trung tâm chính trị, kinh tế thương mại, trung tâm Phật giáo và Nho giáo của nước ta trong thiên niên kỷ đầu công nguyên.


    (*) Trên con đường làm cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của giặc ngoại bang. Trên quê hương Kinh Bắc đã có những người con ưu tú như cụ Hoàng Hoa Thám ( Hùm Thiêng Yên Thế ) thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế, tiếp nối truyền thống đó là Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, những nhà cách mạng tiền bối, có công lớn trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, gây dựng cơ sở và phong trào cách mạng khắp cả nước. ..Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân Kinh Bắc đã đóng góp nhiều công sức và xương máu góp phần cùng cả nước giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

    (*) Người Kinh Bắc không những có truyền thống yêu nước đánh giặc, mà còn cần cù, chịu khó, hay lam hay làm. Sách “Kinh Bắc phong thổ” đã ghi lại hàng trăm làng nghề thủ công truyền thống của xứ Kinh Bắc như: Gốm (Bát Tràng, Đương Xá, Thổ Hà, Quả Cảm, Phù Lãng); gò đúc đồng (Đề Cầu, Đại Bái, Quảng Phú, Trang Liệt); rèn sắt (Đa Hội, Đông Xuất, Ân Phú, Việt Yên, Thị Cầu, Nga Hoàng); nuôi tằm ươm tơ dệt vải (Vọng Nguyệt, Như Nguyệt, Viêm Xá, Đẩu Hàn, Nội Duệ, Lũng Giang, Duệ Đông, Tiêu, Hồi Quan, Xuân Ổ, Tam Đảo, Tam Sơn, Yên Phụ, Phù Ninh, Thượng Mão, Lãng Ngâm, Bà Dương, Lĩnh Mai, Ngọc Trì); nung gạch ngói và vôi (Đáp Cầu, Thị Cầu, Vĩnh Kiều, Tấn Bào…), gỗ chạm khắc mỹ nghệ (Đồng Kỵ, Phù Khê, Hương Mạc, Kim Thiều, Khúc Toại, Trà Xuyên); sơn mài (Đình Bảng, Nội Trì, Bình Cầu, Phù Dực, Định Cương); làm cuốc, cày bừa (Nghi Khúc, Đông Xuất, Mai Cương); giấy dó (Đống Cao, Châm Khê, Bùi Xá, Đào Xá); thợ ngõa thợ nề (Vĩnh Kiều, Tiêu Sơn, Lễ Xuyên, Nội Duệ, Chi Nê, Ngăm Điền, Đặng Xá); tre trúc Xuân Lai, tranh điệp Đông Hồ; rưọu VânHà (Việt Yên); bún Đa Mai (thành phố Bắc Giang); mây tre đan Phúc Long, Phúc Tằng(Tăng Tiến - Việt Yên); rèn sắt Đức Thắng (Hiệp Hoà) v.v… Hoạt động buôn bán của người Kinh Bắc vốn có từ lâu đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ với hệ thống chợ làng, chợ vùng; thậm chí có những làng buôn bán nổi tiếng như: Phù Lưu, Đình Bảng, Đồng Kỵ, Phù Khê, Nội Duệ, Lũng Giang (Lim)....
    Các làng nghề không những làm cho các làng xã thêm trù phú, mà còn góp phần làm nên văn hiến của xứ Kinh Bắc.


    (*) Bản sắc văn hoá của đất Kinh Bắc còn được thể hiện đậm nét ở truyền thống hiếu học khoa bảng. Vùng đất này là cái nôi của Nho giáo, đất khoa bảng nổi tiếng cả nước, được sử sách và dân gian ca ngợi là đất của “một giỏ ông Đồ, một bồ ông Cống, một đống Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn”: Gần nghìn năm khoa bảng phong kiến (1075-1919), Kinh Bắc có gần 700 vị đỗ đại khoa, chiếm 2/3 cả nước, trong đó 43 vị đỗ Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa). Truyền thống khoa bảng của Kinh Bắc với nhiều đặc điểm tiêu biểu như: Người đỗ thủ khoa kỳ thi đầu tiên (Lê Văn Thịnh), vị Trạng Nguyên đầu tiên (Nguyễn Quán Quang), đoạt hết thứ hạng Tam khôi (làng Tam Sơn), người đậu Tiến sĩ trẻ nhất nước 15 tuổi (Nguyễn Nhân Thiếp), 2 cha con cùng đỗ một khoa, 2 anh em ruột cùng đỗ một khoa, 5 anh em ruột cùng đỗ Tiến sĩ, 13 đời liền đỗ Tiến sĩ, 9 Tiến sĩ trong một họ làm quan cùng triều. Các làng và dòng họ khoa bảng như: họ Nguyễn, Phạm làng Kim Đôi (Kim Chân), họ Đàm (Hương Mạc), họ Ngô và Nguyễn (Tam Sơn), họ Ngô (Tam Giang). Các vị sứ thần tài hoa lỗi lạc: Thám hoa Nguyễn Đăng Cảo, Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo, Tiến sĩ Nguyễn Đăng; các vị Thượng thư chính trực như Đàm Văn Lễ, Nguyễn Quang Bật, nhà văn Nguyên Hồng, nhà thơ Hoàng Cầm…..các nhà khoa bảng Kinh Bắc đã là rường cột của nước nhà trên mọi lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, giáo dục, ngoại giao… Họ đã làm rạng rỡ những trang sử dân tộc bằng tài năng, đức độ và lòng yêu nước.

    (*) Kinh Bắc còn là “cái nôi” của văn hoá, văn nghệ dân gian. Vùng đất này đầy ắp những huyền thoại, truyền thuyết, giai thoại, thơ ca, hò vè… phản ánh quan niệm về thiên nhiên, xã hội con người ở mọi góc độ như: lao động, đấu tranh, chinh phục thiên nhiên và cả tình yêu đôi lứa. Chính mảnh đất này đã nảy nở những loại hình nghệ thuật độc đáo như: hát đúm, hát ghẹo, hát ví, hát tuồng, chèo, trống quân, ả đào, ca trù, múa rối và đặc biệt là làn điệu dân ca quan họ đằm thắm mượt mà.

    (*) Kinh Bắc còn được sử sách và dân gian truyền tụng ca ngợi là “xứ sở” của đình chùa lễ hội: “Kinh Bắc với gần ba ngàn di tích, trong đó có những ngôi đình nổi tiếng như đình Đình Bảng, đình Diềm, đình Vồng, đó là những toà đại đình, mái ngói đao cong uốn lượn bồng bềnh, bộ khung gỗ to khoẻ chạm trổ “rồng bay, phượng múa”. Những ngôi chùa nổi tiếng như: Hệ thống chùa Tứ Pháp (huyện Thuận Thành) từng là trung tâm Phật giáo đầu tiên của nước ta. Song hành với lịch sử, những ngôi chùa nổi tiếng của Kinh Bắc còn đó là những di sản văn hoá vô giá như chùa Dạm, chùa Phật Tích, chùa Tiêu,chùa Dâu, chùa Bổ Đà , chùa Vĩnh Nghiêm từng là những đại danh lam thời Lý (thế kỷ XI-XII). Tiêu biểu về giá trị kiến trúc nghệ thuật là Đình Bảng (Từ Sơn) và chùa Bút Tháp (Đình Tổ-Thuận Thành) là những công trình kiến trúc điêu khắc nghệ thuật đặc sắc của thời Lê-Nguyễn còn bảo lưu đến nay.
    Đặc biệt, chùa Bút Tháp với cây tháp Báo Nghiêm nổi bật trên những lớp mái ngói đao cong, cây cối tươi tốt, sóng nước dập dềnh bên bờ Nam sông Đuống, tựa như cây bút khổng lồ vẽ lên nền trời xanh những nét văn hiến đặc sắc của quê hương. Đình chùa xứ Kinh Bắc còn nổi tiếng với những lễ hội lớn như: hội Dâu, hội Lim, hội Diềm, hội Thập đình, hội Tứ Yên, hội đình Vồng Yên Thế, hội chùa La, hội Xương Giang… đã kết tinh ở đó hàng ngàn năm những nét tinh hoa văn hoá của xứ Kinh Bắc.
     
    Chỉnh sửa cuối: 29/6/12
  2. songoku77

    songoku77 Thánh vũ

    Tham gia ngày:
    27/10/11
    Bài viết:
    7,590
    Mời tất cả anh chị em vào chia sẻ!
    :a11::a11::a11: :a11::a11:::30::30::30::30::30:
     
  3. namsport

    namsport Chủ tịch CLB

    Tham gia ngày:
    23/6/11
    Bài viết:
    7,917
    Một thoáng quê hương Kinh Bắc ! 9,5 điểm .....
    đầu năm mùa lễ hội ..... mờ cập nhật vào đây là tuyệt đó. các anh em cố gắng giới thiệu quê hương mình nhé.
     
  4. songoku77

    songoku77 Thánh vũ

    Tham gia ngày:
    27/10/11
    Bài viết:
    7,590
    Rất vui khi có bác Nam cổ vũ tinh thần cho anh em, mà lại được điểm cao chót vót nữa.......! thật là trên cả tuyệt vời! nào xin kính mời anh em!
    :48::48::48::48::48:
     
  5. voltric70

    voltric70 Thành viên Tích cực

    Tham gia ngày:
    3/5/12
    Bài viết:
    303
    Quê ta còn những địa danh nữa như đền Cao Lỗ Vương, Bến Bình Than năm xưa cha ông ta họp Hội nghị Diên Hồng đánh thắng giặc Nguyên Mông. Quê hương ta còn có vườn Lệ Chi Viên nơi Nguyễn Trãi và vụ án oan lịch sử của Thị Lộ. Quê em Gia Bình :68:
     
  6. namsport

    namsport Chủ tịch CLB

    Tham gia ngày:
    23/6/11
    Bài viết:
    7,917
    Sao chú không làm bài chi tiết hơn đi.....
     
  7. songoku77

    songoku77 Thánh vũ

    Tham gia ngày:
    27/10/11
    Bài viết:
    7,590
    Bác voltric70 ơi, bác viết bài chi tiết, sâu sắc hơn về những địa danh trên đi, đó đều là những di tích, danh thắng nổi tiếng gắn với lịch sử quê hương mình mà không phải người Kinh Bắc nào cũng đã 1 lần được đến thăm.
     
  8. Khoai Tây

    Khoai Tây Chủ tịch CLB

    Tham gia ngày:
    29/3/12
    Bài viết:
    18,264
    bác ngâm cứu viết chi tiết lại về các sự kiện trên rùi bác goku cho lên #1 đi bác ơi :D
     
  9. songoku77

    songoku77 Thánh vũ

    Tham gia ngày:
    27/10/11
    Bài viết:
    7,590
    Ở Yên Dũng nhiều đình chùa di tích, lễ hội lắm đấy Khoai, Chùa Vĩnh Nghiêm nổi tiếng đó, tối viết bài nhé!
    Những bài viết hay sẽ được đưa lên trang 1 và sẽ có quà cho những " tay phím xuất xắc", đây là nơi thể hiện suy nghĩ , tình yêu về quê hương mà!
     
  10. namsport

    namsport Chủ tịch CLB

    Tham gia ngày:
    23/6/11
    Bài viết:
    7,917
    Cái này viết theo chủ đề ....từng quê 1 không chồng chéo.... chú phải chú ý nhé.....
     
  11. songoku77

    songoku77 Thánh vũ

    Tham gia ngày:
    27/10/11
    Bài viết:
    7,590
    Vâng, đúng thế ạ.................!
     
  12. A.T.Lee

    A.T.Lee Chủ tịch CLB

    Tham gia ngày:
    27/8/11
    Bài viết:
    8,036
    Gửi Songoku,
    Bài viết cô đọng, súc tích... nhưng nội dung vẫn còn thấy thiếu cái gì đó... từ từ xem thêm và bổ sung nhé.
    - Về
    Bản sắc văn hoá của đất Kinh Bắc: thiết nghĩ một trong những minh chứng hay nhất là có một trong ba Văn miếu lớn nhất của Việt Nam (một ở QTG Hà Nội, một ở Cố đô Huế và một ở Bắc Ninh). Ngoài ra nhiều địa phương cũng có Văn chỉ, tương tự cũng là nơi ghi danh các danh nhân đỗ đạt cao của địa phương, ví dụ như ở làng quê mình cũng có (đã khoe trong FB: http://www.facebook.com/media/set/?set=a.4040551972107.177695.1231043551&type=3&l=2ff576a26b
    đây là Văn chỉ của làng: http://a4.sphotos.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-ash4/s720x720/303678_4041924366416_1063916573_n.jpg)
    - Nêu bật chùa Dâu là chùa cổ nhất, là cái nôi, là cội nguồn của đạo Phật tại Việt Nam.
    - Một nơi mà có thể nói ai cũng biết đến là đền thờ Bà Chúa Kho - Nguyên Phi Ỷ Lan... chưa được nhắc đến
    - Nêu ảnh hưởng của văn hóa vùng Kinh Bắc, du nhập văn hóa Kinh Bắc tới các địa phương khác, đặc biệt là Hà Nội.
    - Các làng nghề truyền thống, sự "xâm nhập" của chúng sang Hà Nội (nghề đồng, tranh sơn mài, tranh Đông Hồ...).
    - Nhắc một chút đến cuộc khởi nghĩa của cụ Đề ở vùi núi Yên Thế... trai Cầu Vồng Yên Thế, gái Nội Duệ Cầu Lim...
    -
    - Về trình bày: không nên để chữ đậm toàn bài như vậy, nhìn nhức mắt.
    - Về qui tắc văn bản: còn nhiều chỗ chưa tuân thủ, như các qui định về dấu hai chấm, chấm, phảy, ba chấm, chấm than khá tùy tiện cần sửa lại.
    - Với bài luận này, Goku không hổ danh xưa kia thi C có môn văn điểm cao.
    - Tuy nhiên, vẫn chưa soi kỹ nhưng - với "chuyên gia" phạm lỗi chính tả, có được bài văn khá nuột nà thế này quả là sự chuẩn bị rất chu đáo, cẩn thận và trách nhiệm, không uổng công người bắt lỗi chính tả.
    nay mới tạm thời soi thấy 1 lỗi không viết hoa danh từ riêng.
    thử tự tìm nha
    Còn soi tiếp...

     
    Chỉnh sửa cuối: 23/6/12
  13. thegioiphang

    thegioiphang Trọng tài Thành viên BQT

    Tham gia ngày:
    14/1/10
    Bài viết:
    7,927
    Vùng đất này tiêu tốn nhiều giấy mực của các nhà thơ, nhà văn. Chủ đề lãng mạn cho các nhạc sỹ, nghệ sỹ "đẻ" ra các tác phẩm kinh điển !
    Em chỉ biết chém có vậy thôi, còn đâu để các tiền bối khác chỉ giáo ạ :D
     
  14. A.T.Lee

    A.T.Lee Chủ tịch CLB

    Tham gia ngày:
    27/8/11
    Bài viết:
    8,036
    ... nhưng bài 1 phải là bài tổng quan, các chủ đề cụ thể của từng thể loại văn hóa ở từng quê sẽ chỉ chi tiết hóa thôi.
    Có 1 điều cần lưu ý là 1 bài không đc vượt quá 40.000 từ.
     
  15. A.T.Lee

    A.T.Lee Chủ tịch CLB

    Tham gia ngày:
    27/8/11
    Bài viết:
    8,036
    Chùa Dâu

    Chùa Dâu, còn có tên là Diên Ứng (延應寺), Pháp Vân (法雲寺), hay Cổ Châu, là một ngôi chùa nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km. Chùa còn được người dân gọi với những tên gọi khác nhau như chùa Cả, Cổ Châu tự, Duyên ứng tự. Đây là ngôi chùa được coi là có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam mặc dù các dấu tích vật chất không còn, nó đã được xây dựng lại.[1]

    [​IMG]
    [​IMG]

    Chùa nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Tại vùng Dâu có năm ngôi chùa cổ: chùa Dâu thờ Pháp Vân (法雲寺, "mây pháp"), chùa Đậu thờ Pháp Vũ (法雨寺, "mưa pháp"), chùa Tướng thờ Pháp Lôi (法雷寺, "sấm pháp"), chùa Dàn thờ Pháp Điện (法電報寺 "chớp pháp") và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp. Năm chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần.

    Chùa Đậu tại vùng Dâu đã bị phá hủy trong chiến tranh nên pho tượng Bà Đậu được thờ chung trong chùa Dâu.


    Lịch sử


    Chùa được xây dựng vào buổi đầu Công Nguyên. Các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đã từng đến đây. Vào cuối thế kỷ 6, nhà sư Tì-ni-đa-lưu-chi từ Trung Quốc đến chùa này, lập nên một phái Thiền ở Việt Nam. Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa, Phật giáo Việt Nam, được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử ngày 28 tháng 4 năm 1962.[1]


    Chùa Dâu gắn liền với sự tích Phật Mẫu Man Nương thờ tại chùa Tổ ở làng Mèn, Mãn Xá cách chùa Dâu 1 km.


    Chùa được xây dựng lại vào năm 1313 và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp theo. Vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp.[1] Hiện nay, ở tòa thượng điện, chỉ còn sót lại vài mảng chạm khắc thời nhà Trần và thời nhà Lê.


    Kiến trúc

    Cũng như nhiều chùa chiền trên đất Việt Nam, chùa Dâu được xây dựng theo kiểu "nội công ngoại quốc". Bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh ba ngôi nhà chính: tiền đường, thiêu hương và thượng điện. Tiền đường của chùa Dâu đặt tượng Hộ pháp, tám vị Kim Cương; Gian thiêu hương đặt tượng Cửu Long, hai bên có tượng các vị Diêm Vương, Tam châu Thái tử, Mạc Đĩnh Chi. Thượng điện để tượng Bà Dâu (Pháp Vân), Bà Đậu (Pháp Vũ), và các hầu cận. Các pho tượng Bồ tát, Tam thế, Đức ông, Thánh tăng được đặt ở phần hậu điện phía sau chùa chính.

    Một trong những ấn tượng khó có thể quên được ở nơi đây là những pho tượng thờ. Ở gian giữa chùa có tượng Bà Dâu, hay nữ thần Pháp Vân, uy nghi, trầm mặc, màu đồng hun, cao gần 2 m được bày ở gian giữa. Tượng có gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán gợi liên tưởng tới những nàng vũ nữ Ấn Độ, tới quê hương Tây Trúc. Ở hai bên là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ. Phía trước là một hộp gỗ trong đặt Thạch Quang Phật là một khối đá, tương truyền là em út của Tứ Pháp.


    Do chùa Đậu (Bắc Ninh) bị Pháp phá hủy, nên tượng Bà Đậu (Pháp Vũ) cũng được đưa về thờ ở chùa Dâu. Tượng Pháp Vũ với những nét thuần Việt, đức độ, cao cả. Những tượng này đều có niên đại thế kỷ 18.


    Bên trái của thượng điện có pho tượng thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, tượng được đặt trên một bệ gỗ hình sư tử đội tòa sen, có thể có niên đại thế kỷ 14.


    Giữa sân chùa trải rộng là cây tháp Hòa Phong. Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới, cao khoảng 17 m nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Mặt trước tầng 2 có gắn bảng đá khắc chữ "Hòa Phong tháp". Chân tháp vuông, mỗi cạnh gần 7 m. Tầng dưới có 4 cửa vòm. Trong tháp, treo một quả chuông đồng đúc năm 1793 và một chiếc khánh đúc năm 1817. Có 4 tượng Thiên Vương cao 1,6 m ở bốn góc. Trước tháp, bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738, bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33 m, cao 0,8 m. Tượng này là dấu vết duy nhất còn sót lại từ thời nhà Hán.


    Có câu thơ lưu truyền dân gian:.
    Dù ai đi đâu về đâu
    Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về.
    Dù ai buôn bán trăm nghề
    Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.
    Ngày hội chùa Dâu được tổ chức rất long trọng và quy mô, tuyến hành hương về nơi đất Phật còn mở rộng tới chùa Phúc Nghiêm - chùa Tổ - nơi thờ Phật Mẫu Man Nương.

    Chú thích

    (1) theo cuốn Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19, các trang 21,67.

    Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

    Xem thêm:
    Chùa Dâu- ngôi chùa Phật giáo cổ nhất Việt Nam
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/6/12
  16. A.T.Lee

    A.T.Lee Chủ tịch CLB

    Tham gia ngày:
    27/8/11
    Bài viết:
    8,036
    Chùa bút tháp - ngôi chùa cổ lừng danh kinh bắc

    Mênh mông biển lúa xanh rờn
    Tháp cao sừng sững trăng vờn bóng cau
    Một vùng phong cảnh trước sau
    Bức tranh thiên cổ đượm màu nước non.
    (Ca dao)
    Ở miền đồng bằng Bắc bộ, dân gian có câu nói truyền tụng : “cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài”, Nam là Sơn Nam (Nam Hà, Thái Bình, Hải Hưng, nơi có nhiều cầu đá), Bắc phía Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang, nổi tiếng với những chùa cổ, tiếng hát quan họ), Đoài ở hướng Tây (Hà Tây, Sơn Tây, rất hãnh diện với những đình làng lớn đẹp như đình Tây Đằng, đình Chu Quyến).
    Ninh Phúc Tự là một trong các chùa cổ ấy nằm trên bờ sông Đuống hiền hòa cách Hà Nội khoảng 25km, còn được gọi chùa Nhạn Tháp vì thỉnh thoảng có những con chim nhạn bay về đậu trên đỉnh các tháp. Chùa tọa lạc ở xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, được vua Tự Đức đặt tên chùa Bút Tháp vì tháp Báo Nghiêm trông tựa cây bút lông. Chùa nằm trong vùng Siêu Loại (tên quê hương Nguyên phi Ỷ Lan) có thành cổ Luy Lâu, làng tranh dân dã Đông Hồ, đền thờ Kinh Dương Vương, đền thờ Lạc Long Quân – Âu Cơ, nơi phát tích đạo Phật với những chùa Phật Tích, chùa Keo, chùa Dâu tức Cổ Châu Tự.
    [​IMG] [​IMG] [​IMG]
    Theo truyền thuyết, chùa Bút Tháp được xây dựng từ thế kỷ 13, dưới đời vua Trần Thánh Tông, nhưng như nhiều chùa chiền xưa ở nuớc ta, vật liệu xây dựng là tre, gỗ nên khó chịu đựng được sức tàn phá của thời gian, dễ bị hủy hoại.

    Vị tu sĩ trù trì đầu tiên ở chùa là Thiền sư Huyền Quang (1254-1334), quê gốc làng Văn Ty, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Dưới đời vua Trần Thái Tông, tưong truyền có bà mẹ họ Lê nhân nằm mộng thấy một con khỉ đội mũ vuông, mặc áo vàng, phóng vào bụng bà một mặt trời đỏ, từ đó thụ thai mà sinh ra Thiền sư. Thi đỗ Trạng nguyên năm 20 tuổi, bổ làm quan Viện Hàn lâm, có tài ứng đối, thông thạo kinh nghĩa, không có ý sắc dục. Ngài xuất gia năm 51 tuổi. Ngài là vị tổ thứ ba dòng Lâm tế, có cho xây một ngôi tháp chín tầng, trang trí hoa sen, loại cối xay cầu nguyện, ngày nay là Tòa Cửu Phẩm.
    [​IMG]
    Qua thế kỷ 17, Hòa thượng Chuyết Công, quê gốc Phúc Kiến, có công xây dựng làm chùa nổi tiếng, sau khi viên tịch được vua Lê phong Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư. Kế nghiệp là vị đồ đệ xuất sắc Thiền sư Minh Hành (1644) quê gốc Giang Tây. Cuộc điều khiển xây dựng của hai vị giải thích ảnh huởng Trung Quốc trong kiến trúc chùa. Vào lúc nầy, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc tức Diệu Viên và con gái Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên tức Diệu Tuệ được chúa Trịnh cho phép bỏ công sức thiết lập quy mô kiến trúc căn bản cho ngôi chùa. Qua đầu thế kỷ 18, chùa được các quan viên họ Lê như Luân Quận công, Dĩnh Quận công, Thế Thái Hầu, Ninh Lộc Hầu,… cùng với Nhu Thuận quận chúa họ Trịnh bỏ tiền mua sắm gỗ gạch tu bổ, lại thêm được dân làng mời thợ sửa sang cho khang trang hơn.
    [​IMG]
    Sang thế kỷ 20, Tổng đốc Ninh Thái là Hoàng Trọng Phu thấy chùa hoang vắng liền thu tập tiền của trùng tu sửa chữa. Nói chung, từ thế kỷ 17 đến nay, chùa đã được trùng tu non mười lần, lần cuối cùng những năm 1990-1993, chùa được tạo dựng hoàn toàn, hiến cho ta ngày nay một kiệt tác nghệ thuật kiến trúc khá nguyên vẹn, chứa đựng một số chứng tích, di vật điêu khắc độc đáo, hiếm có niên đại nhiều thế kỷ.
    [​IMG]
    Kiệt tác nghệ thuật nầy được thực hiện một phần lớn, như đã thấy, là nhờ công lao của hai mẹ con Hoàng thái hậu Ngọc Trúc và Công chúa Ngọc Duyên. Năm 1619, chúa Trịnh Tùng bắt vua Lê Kính Tông tự tử rồi lập Hoàng tử Duy Kỳ lên ngôi, lấy hìệu Lê Thần Tông. Người thông minh, học rộng, nhà vua còn bị Trịnh Tùng ép lấy con gái mình là Ngọc Trúc đã có chồng là Lê Trụ bị xử trảm và bốn con. Làm vua đến 1643, Lê Thần Tông nhường ngôi lại cho con là Thái tử Duy Hữu tức Lê Chân Tông rồi đưa Ngọc Trúc về Thanh Hóa xây dựng chùa Mật, nay đã hoàn toàn bị phá. Bên phần Hoàng thái hậu, số phận long đong, cũng muốn nương nhờ cửa Phật, bèn cùng các thân nữ lại chùa Phật tích nghe Thiền sư Chuyết Chuyết giảng kinh. Từ đấy, bà xin vua cha cho phép trùng tu chùa Bút Tháp đang đổ nát để sau nầy chính thức xuất gia. Công chúa Ngọc Duyên tình nguyện cúng các ruộng lúa làm chi phí. Khi chùa hoàn thành, Thiền sư dời sang trù trì, Hoàng thái hậu cùng các con gái, các hoàng thân ở cung vua phủ chúa cũng kéo nhau về đó. Năm 1644, khi Thiền sư Chuyết Chuyết viên tịch, Thiến sư Minh Hạnh đến nay trù trì chùa Phật Tích và đã nhiều lần được gởi qua Trung Quốc thỉnh kinh, sang Bút Tháp kế nhiệm.

    Trong số các kiểu chữ tam, chữ đinh, chữ công định nghĩa theo hình thức, kiểu nội công ngoại quốc đã được chọn : bên ngoài hình chữ khẩu hay chữ quốc bao quanh bảy tòa nối liền Tiền đường đàng trước với Hậu đường (hay Nhà Hậu, thờ Thánh Tam tòa, Tứ phủ, các sư tổ) phía sau ; giữa hai tòa ầy nối tiếp nhau qua những khoảng trống lộ thiên, từ ngoài vào là Tiền đường, Thiêu Hương, Thượng đìện, Tích Thiện Am (hay Tòa Cửu Phẩm), Nhà Trung, Phủ Thờ. Nếu Tiền đường, Thiêu Hương và Thượng đìện dính với nhau, sắp thành chữ công, hai Nhà Trung và Phủ Thờ tách rời riêng biệt, còn Thượng đìện và Tích Thiện Am được nối nhau qua một cây cầu đá. Hai bên những tòa nhà nầy là hai hành lang 26 gian dài hơn 100m chạy suốt dọc chùa. Ngoài tổng thể nầy, toàn bộ hướng về phía nam, hướng của trí tuệ, bát nhã, trước chùa có Tam Quan trống rỗng, bỏ ngỏ tỏ rõ tấm lòng từ bi đức Phật luôn mở rộng đón nhận tất cả kiếp người và Gác chuông hai tầng tám mái khá cao, tầng trên lát gỗ lim đen bóng, ở giữa quả chuông đồ sộ đời Gia Long thứ 14 (1815) ; hai bên có hai nhà bia (1647 : Xây dựng chùa Ninh Phúc ; 1674 : Cúng ruộng cho Tam bảo chùa Ninh Phúc) ; sau có các Tháp Tôn Đức, Ni Chân, Tâm Hoa ; hai bên hông có Tháp Bảo Nghiêm, Nhà tổ và những Tháp mộ các thiền sư.
    [​IMG]
    Trong số các tượng hình trong chùa Bút Tháp, có tiếng nhất là pho tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn tức Quan Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay, kiệt tác của nền điêu khắc Việt Nam. Cao 370cm, đường kính vành tay 224cm, tượng được đặt trong Thượng điện cùng với những tượng Tam Thế, các vị Bồ Tát như Thích Ca Tuyết Sơn, Văn Thù, Phổ Hiền,… và hai dãy 18 vị La Hán sát tường hai bên. Dưới bệ tượng có ghi tên người khắc là một ông họ Trương, sau mười năm nghiền ngẫm, làm xong mùa thu năm Bính Thân (1656) nghĩa là tác phẩm thuộc về loại sớm nhất trong nghệ thuật điêu khắc Phật giáo ở nước ta.
    [​IMG]
    Hóa thân Quan Âm của đức Avalokitesvara hàm nghĩa là nghe tiếng kêu than của chúng sinh để đến cứu độ. Tay tượng gồm có 42 tay lớn không cầm pháp khí (kim cương, chử, vòng, chuổi hạt, hạt châu,…) như thường lệ, 958 tay nhỏ tạo thành 7 vòng tay. Các cánh tay nhịp điệu khác nhau, trong lòng mỗi bàn tay mang một con mắt, kết thành một vầng hào quang quanh đầu, trên có hình Diệu âm điểu Kalavinka tượng trưng cho Phật pháp vĩnh cữu.

    Tích Phật kể Ngài lo nghĩ nhiều cho đời nên đầu vỡ thành nhiều mảnh, Phật A Di Đà cảm thông đã dùng phép thuật vô biên biến hóa mỗi mảnh thành một bộ mặt để tăng thêm pháp lực cứu độ chúng sinh. Vì vậy, xếp thành 4 tầng, Ngài có 11 bộ mặt tượng trưng cho những đức tính cần thiết trước để đức Bồ Tát, sau để giúp chúng sinh đạt đến giác ngộ. Đức Quan Âm ngồi thiền định, bàn chân mặt ngửa trên đùi trái theo thế bán kiết già, trên một tòa sen Rồng đội. Con rồng nầy là hóa thân của Long Vương Upananda, thêm vào những sinh vật ngao, ốc, cua, hến,…lặn lội giữa những lớp sóng động của Thủy cung, hàm ý Phật pháp thuấn nhuần thế gian.

    Trong Thượng điện, đức Quan Âm còn có mặt qua ba pho tượng Quan Âm Tọa Sơn, hai pho bằng gỗ thế kỷ 17-18, một pho bằng đất thế kỷ 19-20, cao 140cm, khuôn mặt thanh tú. Trong các pho nầy, Ngài ngồi chân mặt gập, bàn chân dẫm xuống đất, đầu gối cao ngang ngực, chân trái ngả nằm trên mặt bệ, theo kiểu Thanh nhàn đế vương Maharaja lilasana. Tượng Tuyết Sơn cao toàn bộ 222cm, còn gọi Tây Thiên Đông đô lịch đại tổ, trình bày chân dung Thái tử Thích Đạt Đa khi đi tu ép xác ở núi tuyết, cơ thể, mặt mày rõ ràng đau khổ.

    Trong Phật điện Việt Nam, thường có hai thị giả được thờ hai bên đức Phật Thích Ca, hai hình tượng được xem là sớm nhất trong ngành điêu khắc Phật giáo Việt Nam là hai pho Văn Thù và Phổ Hiền. Văn Thù Sư Lợi tức Manjushri, cao 125cm, dịu hiền, sắp bên mặt, là vị Bồ Tát của trí năng, người chiến thắng bóng tối và ngu dốt. Tay cầm kiếm Kim Cương đoạn diệt mê hoặc, Ngài ngồi trên lưng sư tử mà sức mạnh là biểu tượng cuộc tồn sinh và năng lực phát sinh nên Ngài cũng là vị Bồ Tát của sự giác ngộ. Phổ Hiền Bồ Tát tức Samanthadra, cao 180cm, sắp bên trái, được xem là vị Bồ Tát hộ vệ những ai tuyên giảng đạo pháp. Ngồi trên voi trắng sáu ngà, voi trắng tượng trưng cho trí tuệ vượt chướng ngại, sáu ngà cho sự chiến thắng sáu giác quan, Ngài được kê trong Phật Đài Nhật Bản, cũng là một trong bốn Đại Bồ Tát Trung Quốc. Trú xứ của Ngài là núi Nga Mi, nơi Ngài lưu trú sau khi cỡi voi trắng từ Ấn Độ sang Trung Quốc.

    Chùa không quên ơn các vị đã bỏ công của ra trùng tu chùa nên trong Phủ Thờ có tượng của Hoàng Thái Hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (1595-1660) tức Chúa bà Kim Cương, tượng hai Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên (1615-1664), Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ và tượng Thái Tử Lê Đinh Tứ. Khi xây chùa Mật, vua Lê Thần Tông có cho tạc chân dung mình và sáu bà hoàng. Hiện nay tượng vua và năm hoàng phi được đặt tại Thái miếu nhà Lê ở Thanh Hóa. Ở chùa Bút Tháp, các chân dung chịu ảnh hưởng của các tượng chùa Mật, có lẽ vì được cùng các nghệ nhân tạc khắc, tuy không sâu sắc bằng. Vẻ mặt cao quý, tượng các bà hoàng được đặt trong các khám thờ trang trọng.

    Ở giữa, tượng bà Hoàng Thái Hậu Ngọc Trúc, cao 95cm, không còn giữ y phục vương triều mà được khoác áo tu hành giản dị. Khuôn mặt cương nghị, đôi mắt mở to tỏ ra một người đã từng sống và đã từng trải qua những cơn đau khổ. Hai bên tượng hai Công chúa Ngọc Duyên và Quận chúa Ngọc Cơ, cao 120cm, đội mũ phượng, xiêm y có chạm hoa văn, cách tạo hình trang trọng và rực rỡ như chân dung ở chùa Mật. Còn pho tượng nam giới là Thái Tử Lê Đinh Tứ cao 170cm. Trong Nhà tổ, có hai tượng Thiền sư Chuyết Chuyết (1590-1644) tức Chuyết Công, cao 95cm và Thiền sư Minh Hành (1595-1659) pháp hiệu Tại Tại, có mặt vuông vức, mũi gồ. Rải rác ở Thượng điện và Hậu đường còn có một số loạt tượng chân dung hoàng thân, sư tổ, khó xác định tên tuổi từng người. Vua Trần Nhân Tông, thuở ban đầu chùa Bút Tháp, đã có gởi lòng thủ phận trong một bài thơ thiền bằng chữ Hán. Dịch : (trích sách của Phan Cẩm Thượng)

    Ai trói mà tìm phương giải thoát

    Không phàm hà tất kiếm thần tiên

    Vượn nhàn, ngựa mỏi, người già yếu

    Vẫn trước am mây với sập thiền.

    Phải trái trôi theo hoa rụng sớm

    Danh lợi lạnh lòng trận mưa đêm

    Hoa tàn, mưa lạnh, núi non lặng

    Cuối xuân sót lại một tiếng chim.

    Tòa Tích Thiện Am, như tên gọi có nghĩa chứa điều lành, xây từ năm Tân Dậu 1681 đến năm Tân Mùi 1691 như thấy ghi trong tấm bia, còn được gọi Cửu phẩm liên hoa vì giữa tòa có đặt một cối kinh bát giác cao 7,8m, bằng gỗ 9 tầng, thể hiện 9 kiếp tu của đức Thích Ca. Tháp mang ý nghĩa cửu phẩm vãng sinh về thế giới cực lạc của đức Phật A Di Đà. Theo nghi thức Phật pháp Mật tông nguồn gốc Tây Tạng, tháp quay có mục đích nhân lời tụng lên nhiều lần (3.542.400 lần khi quay một vòng tháp !), từ đó con người càng chóng chứng quả Phật pháp hơn. Bên cạnh nhiều pho tượng Phật và các vị Bồ Tát, tám mặt của tháp có chạm những bức phù điêu liên quan đến tích nhà Phật, khuyến thiện trừ ác, hành trang các vị tổ, đại sư.

    Tầng một : Hoa tàng thế giới, Sa bà thế giới. Tầng hai : Anan kết tập, Di Đà thuyết pháp. Tầng ba : Tín thụ tác lễ, Cực lạc thế giới. Tầng bốn : Thiền sư, Lục tổ. Tầng năm – tầng tám : 8 vị Phật, tổng cộng 32 vị. Tầng chín : 4 tượng Di Đà và hai hàng chữ : Cửu phẩm liên hoa, A Di Dà Phật. Đục chạm tinh xảo, sắp xếp hoàn hảo người vật, cây Cửu phẩm chùa Bút Tháp là một trong ba cây ở Việt Nam, đều nằm trong địa bàn phát triển của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.

    Tòa Tích Thiện Am nối liền với Thượng điện qua một cầu vồng đá cong bắc ngang qua hai hồ sen mang tên Bích Da. Được hai con sư tử bảo vệ ở phía đầu, cầu dài 4m, gồm 3 nhịp uống cong, mặt cầu lát đá xanh, trên lan can có 12 bức chạm khắc đá, nối tiếp 26 bức trên lan can tòa Thượng điện. Cao 14cm, rộng 130cm, những bức nầy được phân bố cân đối, hợp lý, chạm khắc công phu, tinh xảo, trang trí nhiều đề tài giới hạn trong lĩnh vực chim (cò, phượng, hạc, vẹt), thú (ngựa, thỏ, dê, hươu, cá, khỉ, rồng, kỳ lân, tê giác, sư tử), cây (tùng, mai), hoa (cúc, sen, lan, hướng dương, phù dung, loa kèn) và thiên nhiên (mặt trăng, mặt trời) trong những hoạt cảnh truyền thống (phượng múa kỳ lân, đôi cá vờn trăng, sư tử vờn cầu, đôi lân quyết đấu, năm rồng gặp biển, năm ngựa cùng phi,…). Trong một nơi nghiêm chỉnh, những bức chạm khắc đá nầy là những hình ảnh vui tươi, sống động quen thuộc trong dân gian. Những cây hoa được chọn trong số những loài tượng trưng cho tính cách tốt đẹp của con người : mai (sự trong trắng), lan (sự cao quý), tùng (khí phách người quân tử),…Những con vật huyền thoại được trình bày trong một trạng thái hư thực nhưng phản ảnh đời sống : rồng chầu mặt trời (thăng hoa tột đĩnh), phượng múa bên hoa phù dung (tài tử giai nhân trong thiên hạ),… Những bức chạm khắc đá nầy lẫn lộn khô khan, giáo điều với ngẫu nhiên, hứng thú, khi rõ ràng, khi khó hiểu, nhưng thực hiện khéo léo, tinh vi, vừa làm vừa lòng những bậc tôn giả, vừa gây vui thích đám dân quê mộc mạc.

    Sau cùng, bàn đến chùa Bút Tháp không thể quên tháp Báo Nghiêm. Đây là nơi thờ Thiền sư Chuyết Chuyết, người có công lớn xây dựng chùa. Tháp đá cao 13m, năm tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh ; ngoài tầng đáy rộng hơn, bốn tầng trên gần giống nhau, rộng 2m. Năm góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,30m. Hai vòng tường cột và lan can bao quanh phần bệ tượng. Tháp thể hiện tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc. Tháp có 23 bức chạm đá lấy các cây hoa và chim thú làm đề tài chủ yếu như những bức ở Thượng điện và Cầu đá : 8 bức ở chân lan can, 8 bức ở tầng một chân tháp, 7 bức ở tầng hai tháp. Ta gặp lại những chim (cò, hạc, phượng), thú (hổ, rồng, hươu, ngựa, dê, cua, cá, kỳ lân, sư tử), hoa (sen, hướng dương, phù dung). Ở đây, ngoài vài hoạt cảnh đã thấy ở trên (hạc múa kỳ lân, sư tử vờn cầu,…) có vài màn mới (dê núi dưới trăng), đặc biệt có mặt con người (người quỳ nâng tháp, vị quan và con hạc). Nói chung tất cả các bức chạm khẳc đá đều thống nhất với nhau về mặt chất liệu, phong cách, từ đấy niên đại. Hình ảnh sống động, chan hòa tính chất nghệ thuật thiên nhiên, giúp thêm ý nghĩa đạo Phật.

    Được bộ Văn hoá xếp hạng Di tích Quốc gia từ tháng tư 1962, Bút Tháp là một ngôi chùa cổ có quy mô kiến trúc lớn của đồng bằng Bắc bộ còn đuợc bảo tồn khá nguyên vẹn đến ngày nay. Chùa có kiến trúc độc đáo, bố cục hài hòa với môi trường thiên nhiên. Những pho tượng chân dung hoàn chỉnh nhất được xem là khuôn mẫu tạo hình cho những giai đoạn sau. Có vài yếu tố mang đậm dấu ấn Trung Quốc trong kiến trúc đã được kết hợp một cách hài hòa với các yếu tố văn hóa truyền thống của Việt Nam. Cho đến ngày nay, chùa Bút Tháp vẫn giữ trong mình những giá trị đặc sắc được tích tụ trong mỗi quá trình tồn tại của mình. Hằng năm, mỗi dịp xuân về, hội chùa Bút Tháp lại được diễn ra trong niềm vui náo nức và lòng sùng kính của khách hành hương. Đến với lễ hội, tăng ni phật tử cùng du khách thập phương không chỉ được chiêm ngưỡng những pho tượng cổ nổi tiếng mà còn được hòa mình vào không gian văn hóa đặc sắc của lễ hội vùng quê bên bờ nam sông Đuống với trò chơi đánh đu, đấu vật, chọi gả, thả chim, ca hát quan họ, diễn chèo… Không chỉ vào dịp lễ hội, chốn danh lam cổ tự Bút Tháp còn là điểm đến thường xuyên của đông đảo du khách gần xa. Đồng thời đang trở nên một trung tâm du lịch, chùa còn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về lịch sử văn hóa của vùng quê văn hiến Kinh Bắc – Bắc Ninh.

    Mừng Phật Đản 2556 (2012)

    Sưu tầm, theo Huỳnh Mỹ Nhàn (Bàii và ảnh Võ Quang Yến)
     
    Chỉnh sửa cuối: 13/6/12
  17. Khoai Tây

    Khoai Tây Chủ tịch CLB

    Tham gia ngày:
    29/3/12
    Bài viết:
    18,264
    Bác AT Lee lần sau ghi thêm cái link Nguồn trích dẫn cho bà kon tham khảo nhé
    tránh trường hợp có động chạm vi phạm bản quyền ..
    ..em sửa lại hộ bác roài đó ạ!
    em mới tập uống sữa Vina SOY ;))
     
  18. songoku77

    songoku77 Thánh vũ

    Tham gia ngày:
    27/10/11
    Bài viết:
    7,590
    Cảm ơn bác thegioiphang ủng hộ, em đã đọc nhiều bài viết của bác trên 4rum và nhận thấy bác là " tay phím" với trình độ " văn hay chữ tốt ", vậy em mong bác ủng hộ nhiều hơn cho topic này bằng những bài viết dài và sâu hơn nữa để mọi người được học hỏi bác nhé!
     
  19. Khoai Tây

    Khoai Tây Chủ tịch CLB

    Tham gia ngày:
    29/3/12
    Bài viết:
    18,264
    box hay của anh cường goku mà có vẻ vắng khách nhỉ :D
     
  20. songoku77

    songoku77 Thánh vũ

    Tham gia ngày:
    27/10/11
    Bài viết:
    7,590

    Đọc bài của bác vào đúng mấy ngày em quá bận nên chưa kịp trả lời bác.
    Đầu tiên em xin cảm ơn bác đã nhiệt tình ủng hộ, đóng góp ý kiến bổ ích và xây dựng cho topic hoàn thiện hơn, những lỗi trong bài em sẽ cố gắng sửa lại cho ổn hơn!
    - Kính thưa toàn thể anh chị em Kinh Bắc : Là một người con Kinh Bắc sống xa quê nhưng em luôn yêu và nhớ về quê hương một cách chân thành, mộc mạc. Mục đích lập topic này để tạo ra một góc nhỏ về quê hương trên sân chơi lớn TGCL cho anh chị em Kinh Bắc chia sẻ tình yêu về quê hương, về những cái hay, cái đẹp của quê hương.
    - Về nội dung topic: Đúng như bác Tuấn nói là vẫn còn sơ sài và thiếu thiếu.
    - Như tiêu đề topic " Một thoáng quê hương Kinh Bắc " đã toát lên phần nào về nội dung topic là một thoáng hay đôi nét về Kinh Bắc thôi chứ khó có thể nói hết và đầy đủ hết về văn hóa Kinh Bắc vô cùng phong phú ở đây được, và đây là một topic rất mở. Chính vì vậy rất cần những bài viết thực tế sâu sắc , những trải nghiệm và tất cả tâm huyết của anh chị em về quê hương Kinh Bắc.
    - Về bản sắc văn hóa Kinh Bắc thì cũng đa dạng và phong phú, trong đó ý nghĩa nhất mà mỗi khi nghe đến Kinh Bắc là ai ai cũng biết đó chỉ có thể là " Dân ca quan họ " mà thôi, và Dân ca quan họ còn là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tiếp theo là các di tích, đình chùa miếu mạo , trong đó có chùa Dâu ( là nơi phát tích đạo phật, từng là trung tâm phật giáo của cả nước ), Đền thờ Kinh Dương Vương ( Nam bang thủy tổ ) là thủy tổ của người Việt, Đền Bà chúa kho, đền Gióng ( Lễ hội Gióng cũng là di sản văn hóa phi vật thể)...
    - Văn Miếu Bắc Ninh khó có thể là minh chứng ý nghĩa nhất cho bản sắc văn hóa Kinh Bắc được bởi lẽ Văn Miếu thờ Khổng Tử ( Đạo Nho) mà ở Kinh Bắc với triều đại nhà Lý thì đạo phật được phát triển cực thịnh, có ảnh hưởng rất lớn và sâu rộng đến đến đời sống người dân với việc góp mặt của các nhà sư trong bộ máy chính quyền trung ương.
    Vì thế đối với xứ Kinh Bắc thì Văn Miếu Bắc Ninh có giá trị về kiến trúc là chính, còn giá trị văn hóa mang tính biểu tượng thì không thể lớn như Chùa Dâu hay đền thờ Kinh Dương Vương và đặc biệt là làn điệu quan họ mượt mà thắm đượm tình quê hương. Và Văn miếu Bắc Ninh là một trong rất nhiều Văn Miếu tại Việt Nam, đạo Nho thịnh hành và đi sâu vào cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam nên khắp 3 miền Bắc Trung Nam đều có Văn Miếu và đều thờ chung một nhân vật chính là đức Khổng Tử và các đồ đệ như Văn Miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội, văn miếu Bắc Ninh, Văn Miếu Mao Điền - Hải Dương, Văn Miếu Huế, Văn Miếu Xích Đằng- Hưng Yên, Văn Miếu Vinh - Nghệ An, Văn Miếu Diên Khánh- Khánh Hòa, Văn Miếu Vĩnh Long, Văn Miếu Đồng Nai...
    - Mong tất cả anh chị em nhiệt tình góp ý thêm và đóng góp nhiều bài viết hay để topic này được hoàn thiện hơn.
     
    Chỉnh sửa cuối: 19/6/12
Đang tải...

Chia sẻ trang này